Đầu tư công và phép thử hiệu quả tăng trưởng
Trong các giai đoạn nền kinh tế đối mặt với nhiều cú sốc từ bên ngoài, chính sách tài khóa thường được đặt trước yêu cầu kép: vừa hỗ trợ tăng trưởng trong ngắn hạn, vừa không làm suy giảm nền tảng ổn định vĩ mô trong dài hạn.

Điểm tựa trong bối cảnh thế giới bất định
Yêu cầu này trở nên rõ hơn khi nền kinh tế bước vào năm 2026 với nền tảng tăng trưởng tích cực nhưng cùng với đó, môi trường bên ngoài cũng nhiều bất định hơn, từ giá năng lượng, đồng USD mạnh, lãi suất cao, đến triển vọng thương mại toàn cầu suy giảm. Khi sản xuất, xuất khẩu, tiêu dùng chịu nhiều sức ép từ biến động thương mại, biến động giá năng lượng và chi phí đầu vào, trong khi đầu tư tư nhân chưa thực sự khởi sắc, đầu tư công có vai trò giữ nhịp hoạt động kinh tế, nhất là trong xây dựng, dịch vụ, vận tải, logistics và các ngành liên quan đến hạ tầng. Nói cách khác, đầu tư công tiếp tục được nhìn nhận là điểm tựa quan trọng để duy trì đà tăng trưởng, hỗ trợ tổng cầu và kích hoạt đầu tư tư nhân. Tuy nhiên, bài toán không chỉ là giải ngân nhanh hơn, mà còn là thẩm định chặt chẽ, triển khai hiệu quả và huy động nguồn lực dài hạn để đầu tư công thực sự trở thành động lực nâng năng suất nền kinh tế.
Theo bà Tehmina S. Khan, chuyên gia Kinh tế trưởng của WB tại Việt Nam, với nợ công ở mức thấp (khoảng 34% GDP vào cuối năm 2025), Việt Nam có dư địa tài khóa để mở rộng đầu tư công và hấp thụ các cú sốc. Đây là lợi thế không nhỏ trong bối cảnh nhiều nền kinh tế phải đối diện đồng thời với áp lực lạm phát, chi phí vốn cao hơn và dư địa chính sách thu hẹp. Thực tế, tăng trưởng cao trong năm 2025 có phần đóng góp quan trọng của đầu tư, đặc biệt là đầu tư công. Các nỗ lực đơn giản hóa quy trình phê duyệt, giải ngân dự án, cùng với dòng vốn FDI tăng mạnh, đã góp phần duy trì động lực đầu tư của nền kinh tế. Đầu tư công cao hơn cũng hỗ trợ hoạt động dịch vụ và xây dựng, qua đó tác động lan tỏa tới việc làm, thu nhập và doanh thu bán lẻ.
Từ góc nhìn này, đầu tư công không chỉ là giải pháp hỗ trợ tổng cầu trong ngắn hạn. Nếu được triển khai đúng trọng tâm, các dự án hạ tầng có thể làm giảm chi phí logistics, cải thiện kết nối vùng, nâng năng lực hấp thụ của khu vực tư nhân và củng cố năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trong trung hạn. Đây chính là điểm khác biệt giữa đầu tư công mang tính “kích cầu” thuần túy và đầu tư công tạo nền tảng phát triển.
Không gian tài khóa cần đi cùng kỷ luật chi tiêu
Tuy nhiên, dư địa tài khóa lớn không đồng nghĩa với khả năng mở rộng chi tiêu thiếu chọn lọc. Khi quy mô vốn đầu tư công ngày càng lớn, yêu cầu về kỷ luật tài khóa, chất lượng dự án và hiệu quả sử dụng vốn càng trở nên cấp thiết. Đầu tư công có thể là điểm tựa tăng trưởng, nhưng nếu dàn trải, chậm tiến độ, đội vốn hoặc không tạo dựng được những công trình có sức lan tỏa, nguồn lực này có thể trở thành gánh nặng đối với ngân sách và nền kinh tế trong trung, dài hạn.
Vai trò dẫn dắt của đầu tư công trong bối cảnh hiện nay là rất rõ. Do đó, vấn đề không phải là có nên tăng đầu tư công hay không mà là tăng theo cách nào, lựa chọn dự án ra sao, kiểm soát tiến độ và chất lượng thế nào, cũng như có các tiêu chí để đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội mang lại.
Giải ngân vốn đầu tư công 4 tháng đầu năm đạt 14,2% kế hoạch được Thủ tướng Chính phủ giao, tăng 12,6 nghìn tỷ đồng về số tuyệt đối. Đến ngày 30/4/2026, cả nước đã đưa vào khai thác thêm gần 200 km đường bộ cao tốc, trong khi các dự án trọng điểm ngành giao thông vận tải như cảng hàng không và đường sắt tốc độ cao tiếp tục được đẩy mạnh… Những dữ liệu đó thể hiện giải ngân đã và đang có những chuyển động tích cực, song cũng cho thấy áp lực đạt mục tiêu giải ngân 100% kế hoạch vốn được giao còn rất lớn trong các tháng còn lại.
Đáng chú ý, chỉ đạo của Chính phủ không dừng ở yêu cầu giải ngân nhanh. Chính phủ yêu cầu xử lý khó khăn, vướng mắc để phấn đấu giải ngân 100% kế hoạch vốn đầu tư công năm 2026, đồng thời thực hiện đánh giá, hạch toán hiệu quả kinh tế - xã hội trước, trong và sau khi triển khai các dự án. Đây là điểm quan trọng, bởi giải ngân là điều kiện cần để vốn đi vào nền kinh tế, nhưng hiệu quả kinh tế - xã hội mới là thước đo cuối cùng.
Hiệu quả thực thi quyết định chất lượng tăng trưởng
Trong trung hạn, thách thức lớn hơn của đầu tư công không chỉ nằm ở tốc độ giải ngân, mà ở năng lực biến quy mô vốn lớn thành năng suất cao hơn. WB trong báo cáo mới đây cho rằng, triển vọng trung hạn của Việt Nam được củng cố bởi các cải cách cơ cấu, phát triển thị trường vốn và kế hoạch đầu tư công trung hạn (2026-2030) trị giá khoảng 320 tỷ USD. Một kế hoạch đầu tư hạ tầng quy mô lớn nếu được thực hiện tốt có thể tháo gỡ các điểm nghẽn về logistics, năng lượng, đô thị, giao thông và kết nối sản xuất.
Tuy nhiên, WB cũng lưu ý rằng, danh mục đầu tư dự kiến khoảng 320 tỷ USD là thách thức đối với ngân sách và tín dụng ngân hàng truyền thống. Để hiện thực hóa lợi ích tăng trưởng từ kế hoạch này, Việt Nam cần thẩm định dự án chặt chẽ, phối hợp hiệu quả giữa các cấp chính quyền và quản trị vững mạnh. Đồng thời, cần huy động vốn tư nhân ở quy mô lớn, trong đó các cơ chế tăng cường tín dụng và chia sẻ rủi ro có thể là hướng đi thực tiễn, với điều kiện phải có giám sát tài khóa đủ chặt chẽ để quản lý các nghĩa vụ nợ dự phòng. Chuyên gia Tehmina S. Khan cho rằng, đầu tư công không chỉ nằm ở vấn đề giải ngân nhanh mà phải tạo ra tác động cao. Điều này đòi hỏi phải tiếp tục nâng hiệu quả đầu tư công để đầu tư công chuyển hóa thành sự gia tăng năng suất.
Đầu tư công vì thế không thể chỉ được nhìn qua số vốn đã giải ngân, mà còn cần được đánh giá qua năng lực tạo ra hạ tầng hữu ích, cải thiện môi trường kinh doanh, giảm chi phí giao dịch, nâng năng suất và kích hoạt các dòng vốn ngoài nhà nước. Khi một tuyến cao tốc, một cảng hàng không, một tuyến đường sắt, một dự án năng lượng hoặc một hạ tầng số được hoàn thành, giá trị lớn nhất nằm ở những hoạt động kinh tế mới được mở ra nhờ công trình đó.
Đây cũng là lý do yêu cầu công khai, minh bạch kết quả giải ngân hằng tháng có ý nghĩa quan trọng. Theo chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Tài chính được giao gửi kết quả giải ngân vốn đầu tư công của các bộ, cơ quan, địa phương hằng tháng để công khai trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ và các phương tiện thông tin đại chúng; đồng thời, các bộ, cơ quan phải đôn đốc, giám sát, đẩy nhanh tiến độ xử lý các dự án tồn đọng kéo dài. Việc công khai tiến độ giải ngân không chỉ để tạo áp lực hành chính, mà còn để tăng trách nhiệm giải trình trong sử dụng nguồn lực công.
Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng cao hai chữ số trong cả giai đoạn tới, đầu tư công càng có vai trò dẫn dắt rất lớn. Nhưng vai trò đó chỉ được phát huy đầy đủ nếu vốn đầu tư công không thay thế, mà kích hoạt đầu tư tư nhân; không làm gia tăng phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng, mà mở đường cho các nguồn tài chính dài hạn; không tạo thêm công trình đơn lẻ ít giá trị lan tỏa, mà hình thành các hành lang phát triển, chuỗi liên kết và không gian tăng trưởng mới.
Vì vậy, yêu cầu đặt ra đối với đầu tư công trong giai đoạn tới vừa cần nhanh hơn, vừa cần đúng trọng tâm và hiệu quả hơn. Nhanh để nguồn lực không nằm chờ trong kế hoạch; đúng để vốn đến các dự án có khả năng lan tỏa cao; hiệu quả để mỗi đồng vốn ngân sách trở thành một phần của năng lực sản xuất mới. Đầu tư công khi đó mới thực sự trở thành điểm tựa của tăng trưởng trong ngắn hạn và là nền móng cho khả năng chống chịu dài hạn của nền kinh tế.
Đỗ Lê/thoibaonganhang