´Giảm thuế để doanh nghiệp đầu tư, đổi mới và lớn lên´
Việc giảm 30% thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trong năm 2026 và 2027 được kỳ vọng giúp doanh nghiệp nhỏ cải thiện dòng tiền, tăng tích lũy và mạnh dạn đầu tư. Tuy nhiên, theo GS.TS Mạc Quốc Anh, chính sách thuế cần tiến thêm một bước, từ hỗ trợ doanh nghiệp tồn tại sang tạo động lực để đầu tư, đổi mới và lớn lên.
Quốc hội vừa chính thức thông qua Nghị quyết số 43/2026, theo đó doanh nghiệp có doanh thu hằng năm không quá 10 tỷ đồng được giảm 30% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trong hai năm 2026 và 2027. Đây là nhóm doanh nghiệp có quy mô nhỏ, năng lực tích lũy hạn chế và dễ chịu tác động khi thị trường biến động.
Trao đổi với Tạp chí Đầu tư Tài chính, GS.TS Mạc Quốc Anh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Hà Nội, đánh giá chính sách được ban hành kịp thời, thể hiện tinh thần Nhà nước đồng hành cùng doanh nghiệp, góp phần củng cố sức chống chịu, thúc đẩy đầu tư và tạo thêm động lực tăng trưởng.

GS.TS Mạc Quốc Anh Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Hà Nội.
Giảm thuế là thêm nguồn lực cho doanh nghiệp
- Thưa ông, việc Quốc hội thông qua chính sách giảm 30% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trong kỳ tính thuế năm 2026 và 2027 sẽ tác động như thế nào đến hoạt động của doanh nghiệp nhỏ và vừa?
GS.TS Mạc Quốc Anh: Theo tôi, tác động trực tiếp nhất của chính sách là giúp doanh nghiệp cải thiện dòng tiền và tăng khả năng tích lũy. Với doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ, mỗi khoản chi phí tiết kiệm được đều có ý nghĩa lớn, có thể dùng để trả lương, mua nguyên vật liệu, đầu tư máy móc, công nghệ hoặc bổ sung vốn lưu động.
Về mặt kinh tế, giảm thuế không chỉ là giảm thu ngân sách mà còn đưa một phần nguồn lực trở lại khu vực sản xuất, kinh doanh, qua đó kích thích đầu tư và tổng cầu. Nếu được tái đầu tư, khoản thuế được giảm sẽ tiếp tục vận động qua mua hàng, tuyển dụng, trả lương và mở rộng sản xuất, tạo hiệu ứng lan tỏa trong nền kinh tế.
Điều này đặc biệt có ý nghĩa khi doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm hơn 97% tổng số doanh nghiệp nhưng thường hạn chế về vốn, thị trường và khả năng chịu đựng biến động chi phí. Nhiều doanh nghiệp có cơ hội, có đơn hàng nhưng thiếu nguồn lực để mở rộng. Vì vậy, việc giảm 30% thuế có thể được xem như một khoản “vốn tự có bổ sung”, giúp doanh nghiệp có thêm nguồn lực mà không phải vay ngân hàng.
Chính sách cũng có tác động tích cực đến tâm lý, củng cố niềm tin và khuyến khích doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư. Tuy nhiên, hiệu quả không nên chỉ đo bằng số thuế được giảm, mà cần nhìn vào số doanh nghiệp duy trì hoạt động, việc làm được giữ lại, vốn đầu tư tăng thêm và doanh thu sau hỗ trợ.
- Việc giảm thuế sẽ tác động thế nào tới dòng thu ngân sách trong ngắn hạn, thưa ông?
GS.TS Mạc Quốc Anh: Trong ngắn hạn, ngân sách Nhà nước chắc chắn giảm một phần thu từ thuế thu nhập doanh nghiệp. Tuy nhiên, không nên chỉ nhìn bài toán này theo cách “tĩnh”, tức giảm bao nhiêu thuế thì ngân sách mất đi bấy nhiêu, mà cần nhìn bằng tư duy ngân sách “động”.
Một doanh nghiệp được giảm thuế hôm nay nhưng nhờ đó tồn tại, phát triển và tăng doanh thu trong những năm tới có thể đóng góp cho ngân sách lớn hơn nhiều so với khoản thuế được giảm.
Khi doanh nghiệp mở rộng sản xuất, Nhà nước còn có thêm nguồn thu từ việc làm, thu nhập, tiêu dùng và các giao dịch hàng hóa, dịch vụ. Vì vậy, cần phân biệt giữa “giảm nghĩa vụ thuế” và “giảm nguồn thu bền vững của ngân sách”. Tôi nhìn nhận khoản giảm thu trong hai năm 2026 - 2027 như một dạng đầu tư chính sách cho năng lực sản xuất tương lai.
Tuy nhiên, hiệu ứng này không tự động xảy ra. Muốn giảm thuế hôm nay chuyển thành tăng thu ngân sách ngày mai, cần đồng thời tháo gỡ ba điểm nghẽn về vốn, thị trường và thủ tục. Nếu doanh nghiệp vẫn khó tiếp cận tín dụng, thiếu đầu ra hoặc chịu chi phí thủ tục lớn thì hiệu quả kích thích sẽ hạn chế. Vì vậy, chính sách thuế cần được đặt trong một hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp tổng thể.
Chính sách thuế phải giúp doanh nghiệp lớn lên
- Ở thời điểm hiện nay, những loại thuế, phí hoặc khoản chi phí nào đang tạo áp lực lớn nhất đối với doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, thưa ông?
GS.TS Mạc Quốc Anh: Qua thực tế hoạt động của doanh nghiệp, tôi cho rằng áp lực hiện nay không đến từ một sắc thuế riêng lẻ, mà nằm ở tổng chi phí kinh doanh mà doanh nghiệp phải gánh. Doanh nghiệp phải đồng thời cân đối nhiều khoản như chi phí vốn, thuê mặt bằng, tiền lương và bảo hiểm xã hội, logistics, điện năng, nguyên vật liệu, công nghệ, cùng các chi phí liên quan đến kế toán, thuế và tuân thủ pháp luật. Khi những khoản chi phí này cùng tăng, áp lực lên dòng tiền và khả năng mở rộng sản xuất, kinh doanh sẽ lớn hơn. Đặc biệt, doanh nghiệp nhỏ chịu ảnh hưởng rõ hơn bởi các khoản chi phí cố định. Một doanh nghiệp chỉ có vài chục lao động vẫn phải thực hiện nhiều yêu cầu về kế toán, thuế, pháp lý, môi trường, phòng cháy chữa cháy... nhưng không có điều kiện xây dựng bộ máy chuyên trách như doanh nghiệp lớn. Vì vậy, tính trên mỗi đồng doanh thu, chi phí tuân thủ của doanh nghiệp nhỏ thường cao hơn. Do đó, tôi cho rằng Chính phủ nên tiếp tục thực hiện quyết liệt nguyên tắc không chỉ giảm thuế mà phải giảm tổng chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp.
- Nếu được kiến nghị một chính sách ưu tiên với cơ quan quản lý, ông mong muốn điều chỉnh hoặc giảm khoản nào để hỗ trợ doanh nghiệp tốt hơn?
GS.TS Mạc Quốc Anh: Nếu được lựa chọn một chính sách ưu tiên, tôi kiến nghị nghiên cứu cơ chế khuyến khích doanh nghiệp tái đầu tư bằng thuế thu nhập doanh nghiệp. Phần lợi nhuận thực sự được tái đầu tư vào máy móc, công nghệ, chuyển đổi số, R&D, đào tạo lao động, chuyển đổi xanh hoặc mở rộng sản xuất có thể được hưởng mức khấu trừ, ưu đãi thuế cao hơn.
Như vậy, chúng ta chuyển từ tư duy “giảm thuế vì doanh nghiệp nhỏ” sang “giảm thuế để doanh nghiệp đầu tư và lớn lên”. Chính sách tốt nhất không phải giúp doanh nghiệp mãi ở quy mô nhỏ để được ưu đãi, mà phải giúp doanh nghiệp nhỏ hôm nay trở thành doanh nghiệp vừa, doanh nghiệp lớn trong tương lai.
Sau hai năm, cần đánh giá số doanh nghiệp được hưởng lợi, doanh nghiệp tăng doanh thu, số doanh nghiệp chuyển từ siêu nhỏ lên nhỏ, từ nhỏ lên vừa, việc làm mới được tạo ra, cũng như mức tăng năng suất và đầu tư công nghệ.
Đó mới là thước đo thực sự của một chính sách thuế thành công. Tôi rất ủng hộ Nghị quyết 43/2026, bởi chính sách không chỉ giảm 30% số thuế phải nộp mà còn thể hiện Nhà nước sẵn sàng chia sẻ nguồn lực với doanh nghiệp để nuôi dưỡng nguồn thu lâu dài và phát triển khu vực kinh tế tư nhân.
Trong giai đoạn tới, chính sách cần chuyển từ “hỗ trợ doanh nghiệp tồn tại” sang “tạo động lực để doanh nghiệp lớn lên”, khuyến khích những doanh nghiệp đầu tư thực chất, đổi mới sáng tạo, tạo việc làm, minh bạch và nâng cao năng suất. Khi đó, chính sách thuế không chỉ hỗ trợ doanh nghiệp trong năm 2026 -2027 mà còn góp phần hình thành lực lượng doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao hơn và đóng góp lớn hơn cho nền kinh tế.
Kỳ Thư/VietnamFinance