´Muốn tăng trưởng 10%+, Việt Nam phải đi tắt đón đầu´
Theo TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia kinh tế trưởng BIDV, mục tiêu tăng trưởng 10%+ trong giai đoạn 2026 - 2030 đòi hỏi Việt Nam không thể tiếp tục đi theo lối phát triển tuần tự, mà phải “đi tắt đón đầu”, khai thác đồng thời đầu tư, công nghệ và đổi mới sáng tạo để tạo dư địa tăng trưởng mới.
Việt Nam cần đi tắt, đón đầu thay vì phát triển tuần tự
- Thưa ông, Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân từ 10% trở lên trong giai đoạn 2026 - 2030. Theo ông, mô hình tăng trưởng của Việt Nam cần thay đổi như thế nào để đáp ứng mục tiêu này?
TS. Cấn Văn Lực: Trước hết cần phân biệt giữa mô hình tăng trưởng và mô hình phát triển. Mô hình tăng trưởng thường tập trung nhiều hơn vào “lượng”, như tăng trưởng GDP, thu nhập, việc làm, với phạm vi chủ yếu trong lĩnh vực kinh tế và thường có tầm nhìn ngắn, trung hạn.

TS. Cấn Văn Lực Chuyên gia kinh tế trưởng BIDV.
Trong khi đó, mô hình phát triển tập trung nhiều hơn vào “chất” và tính bền vững, bao gồm mức sống, chất lượng cuộc sống, công bằng xã hội, tính bao trùm, môi trường… với phạm vi rộng hơn, bao gồm kinh tế, chính trị, xã hội, môi trường và quốc phòng, an ninh, đồng thời có tầm nhìn dài hạn.
Nói cách khác, mô hình tăng trưởng là điều kiện cần, còn mô hình phát triển là điều kiện đủ. Nếu muốn phát triển nhanh, bền vững và bao trùm, Việt Nam cần cả hai, tức vừa đổi mới mô hình tăng trưởng, vừa xác lập mô hình phát triển phù hợp.
- Vậy điểm cốt lõi trong đổi mới mô hình tăng trưởng của Việt Nam giai đoạn tới là gì, thưa ông?
TS. Cấn Văn Lực: Tôi cho rằng Việt Nam cần đi tắt, đón đầu thay vì phát triển tuần tự. Trước đây, theo khuyến nghị của Ngân hàng Thế giới, các nền kinh tế có thể đi theo trình tự từ đầu tư, đến ứng dụng và lan tỏa công nghệ, rồi mới đến đổi mới sáng tạo. Việt Nam có thể lựa chọn cách tiếp cận đồng thời cả ba yếu tố này.
Quan trọng hơn, cần chuyển từ mô hình dựa nhiều vào vốn, bao gồm vốn tài chính, tài nguyên, trang thiết bị và lao động, sang dựa nhiều hơn vào năng suất các nhân tố tổng hợp, tức TFP.
Theo Ngân hàng Thế giới, muốn nâng TFP cần tập trung vào 5 nhóm nhân tố chính. Thứ nhất là khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, nhằm tạo ra, hấp thụ và ứng dụng công nghệ.
Thứ hai là đổi mới giáo dục và đào tạo để lan tỏa công nghệ, đồng thời nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Thứ ba là nâng cao hiệu quả thị trường, qua đó huy động và phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn.
Thứ tư là phát triển cơ sở hạ tầng, tạo điều kiện cho hoạt động kinh tế - xã hội của tất cả các chủ thể. Và thứ năm là thể chế, bao gồm cả khâu thực thi, nhằm bảo đảm ổn định kinh tế - xã hội, bảo vệ quyền tài sản, các quyền cơ bản của công dân và khơi thông, phân bổ nguồn lực hiệu quả.
- Bối cảnh quốc tế giai đoạn 2026 - 2030 được dự báo có nhiều biến động. Vậy theo ông, điều này đặt ra những thách thức gì đối với Việt Nam?
TS. Cấn Văn Lực: Kinh tế thế giới trong giai đoạn 2026 - 2030 có thể vẫn tăng trưởng khá nhưng chậm lại. Theo các dự báo được chúng tôi tổng hợp, tăng trưởng kinh tế thế giới bình quân khoảng 3%, thấp hơn mức bình quân 3,5% của giai đoạn 2021–2025. Thương mại toàn cầu cũng tăng chậm hơn, khoảng 3–3,5% mỗi năm.
Lạm phát toàn cầu có xu hướng tăng trở lại trong năm 2026 trước khi giảm dần về khoảng 3% vào năm 2030. Bên cạnh đó, đầu tư toàn cầu, nhất là đầu tư công cho cơ sở hạ tầng, năng lượng, chuyển đổi xanh và công nghệ số như trí tuệ nhân tạo, trung tâm dữ liệu, bán dẫn… tiếp tục tăng. Đây vừa là cơ hội, vừa tạo ra sức ép cạnh tranh mới. Có 4 nhóm rủi ro lớn cần đặc biệt lưu ý.
Một là xung đột địa chính trị, nhất là tại Trung Đông, chiến tranh thương mại và công nghệ, phân mảnh cũng như bảo hộ thương mại gia tăng.
Hai là lạm phát có thể tăng trở lại, lãi suất giảm chậm, trong khi rủi ro tỷ giá, nợ công và nợ tư vẫn ở mức cao.
Ba là kinh tế nhiều nước có thể tăng trưởng chậm, kéo theo tốc độ tăng trưởng toàn cầu thấp hơn giai đoạn trước.
Bốn là các rủi ro về an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh chuỗi cung ứng, an ninh mạng - dữ liệu và biến đổi khí hậu ngày càng rõ nét.
- Trong bối cảnh đó, ông nhìn nhận đâu là những điểm thuận lợi của Việt Nam trong giai đoạn 2026–2030?
TS. Cấn Văn Lực: Việt Nam có nhiều điểm sáng và dư địa để phát triển. Trước hết là quyết tâm chính trị cao và quá trình đổi mới mạnh mẽ mô hình quản trị quốc gia, thể hiện qua nhiều chính sách đột phá, trong đó có các nghị quyết chiến lược và những định hướng mới về mô hình phát triển.
Bên cạnh đó, Việt Nam có vị thế và thành quả sau 40 năm đổi mới, đồng thời có khả năng tận dụng những xu hướng toàn cầu như dịch chuyển chuỗi cung ứng, sản xuất và tiêu dùng. Khoa học công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng và sự dịch chuyển lao động linh hoạt cũng đang tạo ra những cơ hội mới. Đây vừa là động lực, vừa là yêu cầu mà Việt Nam phải thích ứng nhanh.
Ngoài ra, Việt Nam vẫn có lợi thế từ cơ cấu dân số vàng, dự kiến kéo dài đến hết năm 2037 theo Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA), cùng với tinh thần khởi nghiệp, đổi mới và sáng tạo đang ở mức cao. Một điểm thuận lợi khác là dư địa chính sách vẫn còn và sự phối hợp chính sách ngày càng nhịp nhàng, hiệu quả hơn.

- Vậy những điểm nghẽn lớn nhất có thể cản trở mục tiêu tăng trưởng cao là gì, thưa ông?
TS. Cấn Văn Lực: Rủi ro bên ngoài gia tăng là một vấn đề lớn. Xung đột địa chính trị, chiến tranh thương mại - công nghệ, phân mảnh và bảo hộ thương mại, các rủi ro về an ninh năng lượng, lương thực, chuỗi cung ứng, an ninh mạng - dữ liệu và biến đổi khí hậu đều khó dự đoán.
Trong nước, năng lực cạnh tranh, năng lực tự chủ, tự cường và sức chống chịu của nền kinh tế vẫn còn hạn chế. Nguy cơ tụt hậu về giáo dục - đào tạo, khoa học công nghệ và rơi vào bẫy thu nhập trung bình vẫn hiện hữu.
Thị trường tài chính và bất động sản chưa thực sự cân bằng, còn tiềm ẩn rủi ro. Chất lượng và khâu thực thi thể chế, pháp luật vẫn cần được cải thiện. Việc vận hành bộ máy ở Trung ương và chính quyền địa phương 2 cấp cũng còn những vướng mắc cần tiếp tục tháo gỡ.
Một vấn đề khác là chất lượng tăng trưởng chưa cao, năng suất còn thấp; quá trình cơ cấu lại nền kinh tế, cổ phần hóa, thoái vốn, xử lý doanh nghiệp nhà nước và đầu tư công còn chậm. Những vấn đề như ô nhiễm môi trường, ùn tắc giao thông, an toàn thực phẩm, chất lượng y tế và giáo dục cũng cần được cải thiện. Tất cả những điều đó cho thấy yêu cầu đổi mới và cải cách là tất yếu.
- Với mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân từ 10% trở lên giai đoạn 2026 - 2030, đâu sẽ là những động lực tăng trưởng mới?
TS. Cấn Văn Lực: Theo lượng hóa của Nhóm nghiên cứu BIDV, nếu được khai thác tốt, các động lực tăng trưởng mới có thể giúp GDP tăng thêm khoảng 2,8 - 3,7 điểm phần trăm mỗi năm. Trong đó, khoa học công nghệ và chuyển đổi số có thể đóng góp thêm khoảng 0,5 - 0,7 điểm phần trăm ở giai đoạn đầu, sau đó tăng lên 0,8 - 1 điểm phần trăm và có thể đạt 1- 1,2 điểm phần trăm.
Cải cách thể chế kinh tế có thể đóng góp thêm khoảng 0,2 - 0,3 điểm phần trăm, sau đó tăng lên 0,3 - 0,5 điểm phần trăm và 0,5 - 0,7 điểm phần trăm. Thúc đẩy các đầu tàu tăng trưởng và liên kết vùng có thể đóng góp thêm 0,3 - 0,5 điểm phần trăm, sau đó tăng lên 0,5 - 0,7 điểm phần trăm và 0,6 - 0,8 điểm phần trăm.
Chuyển đổi xanh có thể đóng góp thêm khoảng 0,15 - 0,2 điểm phần trăm ở giai đoạn đầu, tăng lên 0,2 - 0,25 điểm phần trăm và khoảng 0,2 - 0,3 điểm phần trăm. Ngoài ra, việc xử lý các dự án tồn đọng cũng có thể đóng góp thêm 0,2 - 0,4 điểm phần trăm, sau đó tăng lên 0,3 - 0,5 điểm phần trăm và 0,5 - 0,7 điểm phần trăm. Nếu khai thác tốt và phát huy hiệu quả ngay từ năm 2026, tổng các động lực tăng trưởng mới có thể giúp GDP tăng thêm 2,8 - 3,7 điểm phần trăm mỗi năm.
- Theo ông, cần làm gì để những động lực này thực sự đi vào nền kinh tế thay vì chỉ dừng ở tiềm năng?
TS. Cấn Văn Lực: Điều quan trọng đầu tiên là sớm đưa các nghị quyết của Ban Bí thư, Bộ Chính trị, các luật, nghị quyết của Quốc hội cùng các nghị quyết, chỉ thị và chương trình hành động của Chính phủ vào cuộc sống.
Trong đó, cần xác lập mô hình tăng trưởng và mô hình phát triển mới phù hợp. Việt Nam cần đồng bộ các giải pháp để phấn đấu đạt tăng trưởng bình quân 10% trở lên trong giai đoạn 2026 - 2030, vừa phát huy tốt hơn các động lực truyền thống, vừa khai thác hiệu quả các động lực mới.
Đồng thời, phải kiên định ổn định kinh tế vĩ mô, bao gồm lạm phát, tỷ giá, thị trường năng lượng, tài chính và bất động sản; bình ổn mặt bằng lãi suất và giảm lãi suất có trọng điểm ở những lĩnh vực ưu tiên. Một nhiệm vụ quan trọng khác là đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế, xây dựng và thực thi các kế hoạch cụ thể về huy động, sử dụng và phân bổ nguồn lực theo hướng khả thi, hiệu quả.
Không nên đánh đổi chất lượng lấy tốc độ tăng trưởng
- Tăng trưởng cao thường đi kèm với yêu cầu sử dụng nguồn lực lớn. Vậy theo ông, làm thế nào để tránh tình trạng tăng trưởng nhanh nhưng chất lượng thấp?
TS. Cấn Văn Lực: Đây chính là vấn đề cần đặc biệt quan tâm. Không nên đánh đổi chất lượng tăng trưởng để lấy tốc độ tăng trưởng. Trong giai đoạn tới, Việt Nam cần quan tâm nhiều hơn đến năng suất lao động, phấn đấu hệ số ICOR (hiệu quả sử dụng vốn đầu tư) khoảng 4 lần và nâng đóng góp của TFP vào tăng trưởng lên trên 55%.
Song song với đó là thúc đẩy tăng trưởng xanh, bao trùm và bền vững, trong đó có năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu, xử lý các vấn đề ngập úng, sụt lún. Một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh và bền vững cũng phải bảo đảm các “an ninh” nền tảng, gồm an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh chuỗi cung ứng và an ninh mạng - dữ liệu. Đây cũng là yêu cầu của “tự chủ chiến lược” trong bối cảnh mới.
- Nhìn rộng hơn, ông đánh giá thế nào về các chỉ tiêu cần đạt trong giai đoạn 2026 - 2030?
TS. Cấn Văn Lực: Mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân từ 10% trở lên cần được đặt trong một tổng thể các chỉ tiêu về chất lượng và tính bền vững của nền kinh tế.
Theo định hướng được chúng tôi tổng hợp, bên cạnh mục tiêu GDP bình quân từ 10% trở lên, GDP bình quân đầu người cuối giai đoạn hướng tới khoảng 8.500 USD; CPI bình quân khoảng 4 - 4,5%; tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo khoảng 28% GDP; vốn đầu tư toàn xã hội khoảng 40% GDP.
Đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân vào GDP cuối giai đoạn hướng tới 55–58%; tốc độ tăng năng suất lao động khoảng 8,5%/năm; đóng góp của TFP vào tăng trưởng GDP trên 55%; tỷ trọng kinh tế số khoảng 30% GDP. Cùng với đó là những mục tiêu về kinh tế xanh, chất lượng nguồn nhân lực, đô thị hóa, quản lý nợ công, phát triển con người và nâng cao chỉ số hạnh phúc.
Như vậy, có thể hiểu rằng bài toán tăng trưởng 10%+ không chỉ là làm cho GDP tăng nhanh, mà còn phải thay đổi cách thức tạo ra tăng trưởng? Đúng vậy. Tăng trưởng cao trong giai đoạn 2026 - 2030 đòi hỏi một mô hình tăng trưởng mới, trong đó năng suất, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, thể chế, hạ tầng, nguồn nhân lực và hiệu quả phân bổ nguồn lực phải trở thành những yếu tố ngày càng quan trọng. Việt Nam có cơ hội, có dư địa chính sách và có nhiều động lực mới.
Nhưng để biến cơ hội thành tăng trưởng thực tế, điều quyết định là tốc độ và chất lượng cải cách, khả năng thực thi chính sách và mức độ khai thác hiệu quả các nguồn lực. Nếu làm tốt, các động lực mới không chỉ giúp đạt mục tiêu tăng trưởng cao mà còn tạo nền tảng cho một mô hình phát triển nhanh hơn, bền vững hơn và bao trùm hơn trong giai đoạn tiếp theo.
Trân trọng cảm ơn ông!
Kỳ Thư/VietnamFinance