Kinh tế Việt Nam không thể chủ quan với nguy cơ ´bốn chậm´
TS Nguyễn Bích Lâm - nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê nhận định, nguy cơ “bốn chậm” của nền kinh tế gồm: chậm cải cách thể chế, chậm tái cơ cấu nền kinh tế, chậm nâng cao hiệu quả đầu tư và chậm tăng cường năng lực nội sinh có thể ảnh hưởng tới chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh của Việt Nam trong dài hạn nếu không được khắc phục kịp thời.

TS. Nguyễn Bích Lâm Nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê.
Nền tảng ổn định kinh tế vĩ mô được duy trì tốt
- Ông đánh giá thế nào về bức tranh kinh tế Việt Nam trong 5 tháng đầu năm 2026?
TS. Nguyễn Bích Lâm: Có thể khái quát bức tranh kinh tế 5 tháng đầu năm 2026 bằng ba từ: phục hồi, ổn định và thích ứng. Trong bối cảnh kinh tế thế giới vẫn tiềm ẩn nhiều bất định, kinh tế Việt Nam tiếp tục duy trì được đà tăng trưởng khá tích cực. Những kết quả này cũng cho thấy Việt Nam đang sở hữu nhiều lợi thế quan trọng. T
rước hết là nền tảng ổn định kinh tế vĩ mô được duy trì khá tốt. Đây là điều kiện tiên quyết để thu hút đầu tư và củng cố niềm tin thị trường. Thứ hai, dư địa từ các động lực tăng trưởng truyền thống vẫn còn tương đối lớn, đặc biệt là đầu tư công, tiêu dùng trong nước và dòng vốn FDI.
Thứ ba, việc Việt Nam tiếp tục tham gia sâu vào các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới giúp mở rộng thị trường xuất khẩu và nâng cao vị thế trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Bên cạnh đó, cuộc cách mạng công nghệ, chuyển đổi số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn cũng mở ra cơ hội để Việt Nam thực hiện bước nhảy vọt về năng suất và chất lượng tăng trưởng.
- Vốn FDI đăng ký đạt gần 24,8 tỷ USD, tăng gần 35% so với cùng kỳ năm trước, trong khi vốn giải ngân đạt cao nhất trong 5 năm. Những con số này phản ánh điều gì từ môi trường đầu tư Việt Nam?
TS. Nguyễn Bích Lâm: Tôi cho rằng những con số này phản ánh ba thông điệp quan trọng.
Thứ nhất, Việt Nam vẫn là điểm đến hấp dẫn trong chiến lược tái cấu trúc chuỗi cung ứng và đa dạng hóa địa bàn đầu tư của các tập đoàn quốc tế.
Thứ hai, môi trường đầu tư, kinh doanh đang tiếp tục được cải thiện theo hướng minh bạch, ổn định và thuận lợi hơn.
Thứ ba, dòng vốn FDI không chỉ thể hiện niềm tin vào triển vọng tăng trưởng ngắn hạn mà còn phản ánh kỳ vọng dài hạn của nhà đầu tư đối với nền kinh tế Việt Nam.
Tuy nhiên, điều quan trọng không chỉ là thu hút nhiều vốn hơn mà còn phải nâng cao chất lượng dòng vốn FDI, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, tăng tỷ lệ nội địa hóa và tạo liên kết chặt chẽ hơn với khu vực doanh nghiệp trong nước.
Đặc biệt cần lưu ý cơ cấu dòng vốn FDI đang chuyển dịch khá mạnh từ trực tiếp tạo thêm năng lực sản xuất mới, tạo thêm việc làm mới cho nền kinh tế sang nắm giữ quyền sở hữu các tài sản hiện có của khu vực doanh nghiệp trong nước sang khu vực nước ngoài.
- Một điểm đáng chú ý là cán cân thương mại chuyển sang nhập siêu khoảng 13,8 tỷ USD sau 5 tháng. Theo ông xu hướng này có đáng lo ngại hay không và nguyên nhân chủ yếu từ đâu?
TS. Nguyễn Bích Lâm: Tôi cho rằng chưa nên quá lo ngại nếu nhìn nhận đúng bản chất của hiện tượng này. Phần lớn mức nhập siêu hiện nay xuất phát từ việc nhập khẩu máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu và linh kiện phục vụ sản xuất, đầu tư và xuất khẩu trong thời gian tới. Theo nghĩa tích cực, điều này phản ánh hoạt động sản xuất kinh doanh đang được duy trì. Tuy nhiên, nếu tình trạng nhập siêu kéo dài và chủ yếu đến từ khu vực tiêu dùng hoặc phản ánh sự suy giảm sức cạnh tranh của xuất khẩu thì sẽ là tín hiệu cần lưu ý. Điều quan trọng là phải theo dõi cơ cấu nhập khẩu và khả năng chuyển hóa thành năng lực sản xuất mới của nền kinh tế.
- CPI bình quân 5 tháng tăng 4,31%, trong khi giá điện, giá nhiên liệu và nhiều chi phí đầu vào vẫn chịu áp lực tăng. Ông đánh giá dư địa kiểm soát lạm phát trong những tháng cuối năm thế nào?
TS. Nguyễn Bích Lâm: Áp lực lạm phát trong những tháng cuối năm chắc chắn sẽ lớn hơn giai đoạn đầu năm. Lạm phát hiện nay của nền kinh tế mang đậm tính chất chi phí đẩy. Giá nguyên vật liệu đầu vào tăng mạnh, chi phí logistics leo thang, áp lực tỷ giá và giá năng lượng thế giới duy trì ở mức cao.
Theo kịch bản cơ sở của Ngân hàng Thế giới với giả thiết những gián đoạn nghiêm trọng nhất sẽ sớm kết thúc và hoạt động vận tải qua eo biển Hormuz dần trở lại gần mức trước xung đột vào cuối năm nay, giá dầu Brent dự báo bình quân ở mức 86 USD/thùng trong năm 2026, tăng 24,6% so với mức 69 USD/thùng năm 2025, thì chỉ riêng yếu tố này có thể làm CPI tăng thêm khoảng 1,1 điểm phần trăm. Các yếu tố như điều chỉnh giá dịch vụ công, giá năng lượng, tỷ giá và chi phí logistics đều tạo sức ép lên mặt bằng giá. Điều đáng chú ý là áp lực lạm phát hiện nay chủ yếu đến từ phía chi phí đẩy hơn là cầu kéo.
Vì vậy, việc ổn định nguồn cung, bảo đảm cân đối cung cầu và kiểm soát kỳ vọng lạm phát sẽ đóng vai trò rất quan trọng. Nếu các chính sách tài khoá, tiền tệ và điều hành giá điện, giá dịch vụ chiến lược phù hợp, dự báo lạm phát năm nay ở mức khoảng 5%, cao hơn mục tiêu 4,5% Quốc hội thông qua.
Tập trung vào 5 nhóm giải pháp lớn
- Trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều bất ổn, từ xung đột chính trị đến nguy cơ suy giảm thương mại toàn cầu, những rủi ro nào có thể tác động lớn nhất đến kinh tế Việt Nam trong thời gian tới?
TS. Nguyễn Bích Lâm: Theo tôi, rủi ro lớn nhất hiện nay là sự suy giảm của thương mại và đầu tư toàn cầu đi cùng xu hướng bảo hộ thương mại ngày càng gia tăng. Việt Nam là nền kinh tế có độ mở rất lớn nên bất kỳ biến động nào của thương mại quốc tế đều tác đồng trực tiếp đến xuất khẩu, đầu tư và tăng trưởng.
Cùng với đó, các rủi ro liên quan đến biến động tỷ giá, giá năng lượng, đứt gãy chuỗi cung ứng và các tiêu chuẩn xanh, tiêu chuẩn carbon mới của các thị trường lớn cũng cần được đặc biệt quan tâm. Về dài hạn, rủi ro đáng lưu ý nhất vẫn là nguy cơ của “bốn chậm”, đó là: chậm cải cách thể chế, chậm tái cơ cấu nền kinh tế, chậm nâng cao hiệu quả đầu tư, chậm nâng cao năng lực nội sinh của nền kinh tế.
- Ông có khuyến nghị gì đối với công tác điều hành chính sách trong nửa cuối năm nhằm vừa thúc đẩy tăng trưởng, vừa kiểm soát lạm phát và bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô?
TS. Nguyễn Bích Lâm: Theo tôi, cần tập trung vào năm nhóm giải pháp lớn.
Một là tiếp tục giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, coi đây là nền tảng của tăng trưởng bền vững.
Hai là đẩy mạnh cải cách thể chế, tháo gỡ thực chất các điểm nghẽn về đầu tư, đất đai, thủ tục hành chính và môi trường kinh doanh.
Ba là tăng tốc giải ngân vốn đầu tư công gắn với nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Bốn là hỗ trợ khu vực doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhỏ và vừa nâng cao năng lực cạnh tranh, đổi mới công nghệ và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.
Năm là điều hành linh hoạt, phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tài khóa và tiền tệ theo hướng hỗ trợ tăng trưởng nhưng không đánh đổi ổn định kinh tế vĩ mô.
Đặc biệt, Chính phủ cần xoá bỏ bệnh thành tích và mệnh lệnh hành chính trong chỉ đạo điều hành và thực hiện chính sách lãi suất, tín dụng, tôn trọng quy luật thị trường.
Tôi cho rằng thách thức hiện nay không chỉ là đạt tốc độ tăng trưởng cao, mà quan trọng hơn là tạo dựng được nền tảng tăng trưởng có chất lượng, có sức chống chịu và có khả năng duy trì trong dài hạn.
Đây mới là mục tiêu có ý nghĩa chiến lược đối với nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.
Trân trọng cảm ơn ông!